4.2. CÁCH BẮT MẠCH

Trong bộ mạch cổ y, có rất nhiều loại mạch như trầm, trì, phù, sác, tế, đai, huyền, vi,… Đa phần khi bắt các loại mạch này cần có sự cảm nhận cực kì tinh tế của các ngón tay. Ví dụ mạch Huyền là mạch ấn vào căng như dây cung. Mạch Hồng, mạch tới cuồn cuộn đầy dẫy như sóng vỗ dưới ngón tay, khi đến mạch lớn, lúc đi mạch kém dần. Do vậy bắt mạch đa phần dựa vào kinh nghiệm của người thầy thuốc. Trong mạch lý châm cứu lục khí chỉ cần chú trọng đến 2 loại mạch là Phù và Trầm và chỉ cần phải trả lời” có mạch hay không có mạch”, các ngón tay không cần quá tinh tế như bắt mạch cổ y. Vậy nên mạch lý châm cứu lục khí dễ học, dễ thực hành.

4.2.1 Cách bắt mạch châm cứu lục khí

Tư thế bắt mạch

Có rất nhiều tư thế bắt mạch khác nhau. Tuy nhiên để thuận lợi cho việc học tập, đối chiếu kiểm tra, tôi xin giới thiệu một tư thế bắt mạch duy nhất. Từ nay về sau mỗi khi bắt mạch châm cứu lục khí chúng ta đều dùng tư thế này để cho một kết quả thống nhất giữa những người bắt mạch:

Bệnh nhân và thầy thuốc ngồi đối diện nhau.

Tay trái thầy thuốc cầm vào lòng tay phải bệnh nhân, bẻ nhẹ nhàng nhưng tối đa cổ tay của bệnh nhân.

Tay phải thầy thuốc( các ngón trỏ, giữa, nhẫn) đặt lên bộ vị mạch của tay phải bệnh nhân( Thốn, Quan, Xích).

Bên trái làm tương tự vậy.

Cách ấn và cảm nhận:

Lần lượt các ngón trỏ, giữa, nhẫn ở các vị trí Thốn, Quan, Xích lần lượt đặt nhẹ trên da, rồi từ từ chậm dãi ấn dần dần xuống dưới đến khi nào sát xương thì dừng lại.

Sau khi đã sát xương, tay nhẹ nhàng nhả lực dần dần, từ từ từ dưới lên trên đến khi nào tay chạm hờ lên da thì dừng lại.

Mỗi khi ấn lực, hoặc nhả lực trả lời câu hỏi” có mạch đập ở ngón trỏ, ngón giữa, ngón cái không?”.

4.2.2 Cách biểu diễn mạch trong châm cứu lục khí

Bản chất của việc bắt mạch trong châm cứu lục khí là ấn nhẹ nhàng từ da đến sát xương, sau đó nhả lực từ sát xương đến da. Với mỗi lần ấn nhả, đều cảm nhận xem có mạch hay không. Trong châm cứu lục khí, chúng ta chia ra làm 12 mức độ:

Mốc sát da, cham vào da là 0 hạt đậu.

Mốc sát xương là 12 hạt đậu

Mốc ở giữa da và xương là mốc 6 hạt đậu, đây là một mốc rất quan trọng để chẩn đoán và điều trị bênh, người ta gọi mốc này là TRUNG ÁN. Nếu trung án có mạch ta gọi là mạch hữu lực, có chính khí. Mạch có chính khí thì bệnh nhẹ, mới mắc, nhanh khỏi.

Từ trên 6 hạt đậu đến 0 hạt đậu gọi là Sơ Án.

Từ dưới 6 hạt đậu đến 12 hạt đậu gọi là Trọng Án.

Bát quái để biểu diễn mạch lý

Trong mạch lý lục khí chúng ta dùng bát quái để biểu diễn mạch lý. Bát quái gồm có các quẻ sau:

Cấu trúc của một quẻ dịch gồm có 3 hào. Để dễ dàng trong việc gọi tên, ta đánh số từ dưới lên trên lần lượt là hào 1, hào 2, hào 3. Ta dùng 2 quẻ âm- vạch đứt 9 và quẻ dương 0 vạch liền để biểu diễn quẻ dịch.

Như vậy là chúng ta đã biết cách xác định hào 2, cũng tương đối đơn giản. Bây giờ nhiệm vụ chúng ta là xác định hào 1 và hào 3. Ta xét ví dụ sau:

Khi bắt mạch chúng ta thấy, sờ nhẹ vào da không có mạch, sau đó ấn xuống 1 hạt đậu cũng không có mạch, 2 hạt đậu không có mạch, 3 hạt đậu bắt đầu có mạch, đến 9 hạt đậu có mạch, 10 hạt đậu không có mạch, 11, 12 hạt đậu không có mạch.

Nhìn sơ đồ trên, ta thấy mạch của bệnh nhân có chính khí( trung án có mạch). Mạch của sơ án và mạch của trọng án đối xứng nhau qua trung án. Cụ thể: 2 hạt đậu có mạch- 10 hạt đậu mất mạch. Như vậy mạch này là mạch cân bằng với nhau.

Chúng ta xét tiếp ví dụ tiếp theo:

Ở bệnh nhân này, từ 0-5 hạt đậu không có mạch, 6 hạt đậu có mạch, 7-12 hạt đậu không có mạch.

Trung án bệnh nhân có mạch vậy mạch này là mạch có chính khí. Mặc dù sơ án và trọng án không có mạch, nhưng lực mạch vẫn cân bằng và đối xứng nhau, nên mạch này vẫn là bình mạch. Biểu diễn bằng quẻ Khảm

Ví dụ 3: Ở bệnh nhân này, vừa đặt tay lên da đã có mạch, sau đó ấn xuống sát xương vẫn thấy còn mạch.

Mạch này là mạch có chính khí vì 6 hạt đậu có mạch.

Mạch này đối xứng giữa sơ án và trọng án qua trung án.

Tuy nhiên mạch này không phải là bình mạch vì trên da và sát xương đều có mạch.

Ví dụ 5: Từ 0 hạt đậu đến 12 hạt đậu đều không có mạch

Quẻ Khảm được gọi là bình mạch, là mạch bình thường, không bệnh.

Ví dụ 6:

Mạch này có chính khí.

Sơ án và trọng án không đối xứng và cân bằng nhau, mạch thiên lệch về sơ án. Ta gọi mạch này là mạch phù( phù là nổi). Một bệnh nhân mạch phù, có chính khí ta biểu diễn bằng quẻ Tốn

Quẻ tốn

Ví dụ 7:

Ví dụ 8:

Mạch này là mạch có chính khí.

Không có sự cân bằng giữa sơ án và trọng án, mạch thiên lệch về phía trọng án. Người ta gọi mạch này là mạch trầm.

Ví dụ 9:

Kết luận: Như vậy trong y dịch lục khí gồm có các tượng mạch sau:

Sắp xếp theo mức độ nặng của bệnh theo thứ tự tăng dần: Khảm-Càn- Tốn- Đoài- Chấn- Cấn – Ly- Khôn.

Comments are closed.