Chương 1: Y DỊCH CĂN BẢN

1.1. Âm Dương đối lập

1.2. Âm Dương tiêu trưởng

1.3. Đồ hình Âm Dương

1.4. Ứng dụng vận hành đồ

1.5. Tứ tượng

1.6. Quyết Âm và Dương Minh

1.7. Sự tồn tại hành Thử

Ta thường nghe: Thái cực và Lưỡng nghi à Tứ tượngà Bát quái. Chúng ta sẽ tìm hiểu về Lưỡng nghi sau đó sẽ quay lại tìm hiểu Thái cực và Tứ tượng. Lưỡng nghi gồm có Nghi âm và Nghi dương hay còn gọi là Âm- Dương. Chúng ta có các quy luật âm dương:

Âm Dương đối lập.

Âm Dương hỗ căn.

Âm Dương tiêu trưởng.

Âm Dương chuyển hoá.

1.1.  ÂM DƯƠNG ĐỐI LẬP

Nói đến vấn đề này nhiều người cho là khá đơn giản dễ hiểu. Chỉ là tính đối lập của âm dương như là sáng- tối, cao- thấp, nam- nữ, nóng- lạnh. Nếu chỉ hiểu như vậy thì đó là một thiếu sót rất lớn, dẫn đến nhiều sai lệch về sau.

Ví dụ nói đến vấn đề Âm- Dương: Nóng- Lạnh

Ta có 3 cốc nước: 1 cốc 100 độ C, 1 cốc 80 độ C, 1 cốc 60 độ C. Nếu đem so cốc nước 80 độ với cốc 100 độ thì cốc nước 80 độ là lạnh là Âm. Nếu đem cốc nước 80 độ so với cốc 60 độ thì cốc 80 độ là nóng, là Dương. Vậy cốc nước 80 độ là cốc nóng hay cốc lạnh, là Âm hay là Dương hay cả hai.

Xin thưa, nếu đặt cốc nước 80 độ một mình thì nó là “ Thái cực” không âm, không dương. Bởi nóng lạnh hay âm dương còn phải so sánh với những cốc nước khác. Bởi vậy khi hỏi: “cốc nước 80 độ là cốc nước âm hay dương” là hoàn toàn sai, đúng phải là” so với cốc nước 100 độ thì cốc nước 80 độ là âm hay dương”. Bởi vậy mỗi vật là Âm hay Dương phụ thuộc vào vật đối đãi. Trong dịch lý Việt Nam mà người khởi xướng là thầy Xuân Phong Nguyễn Văn Mỳ đã nghiên cứu rất sâu sắc vấn đề này, và đặt tên cho nó, gọi là “PHẠM VI TÌNH LÝ” hay còn gọi là” LÝ ĐỐI ĐÃI ÂM DƯƠNG”.

Để hiểu thêm về vấn đề này chúng ta đến với ví dụ tiếp theo:

Ta đã biết Nam là Dương, Nữ là Âm, Cao là Dương, Thấp là Âm. Vậy một người A là Nam thấp và một người B là Nữ cao. Vậy ai là Âm, ai là Dương. Có vẻ khá khó khăn nhưng nếu hiểu rõ phạm vi tình lý hay lý đối đãi âm dương thì thật đơn giản dễ hiểu: Nếu xét phạm vi tình lý giới tính thì: A là dương, B là âm, nếu xét phạm vi chiều cao thì A là âm, B là dương. Tách biệt thật là minh bạch.

Nói về phạm vi tình lý hay lý đối đãi của âm dương ông bà ta thường nói: “ Sinh con rồi mới sinh cha- Sinh cháu trong nhà rồi mới sinh ông”. Tại sao lại ngược đời như vậy nhỉ? Thì ra sinh con thì người chồng mới được xưng danh bố, khi chưa có con người chồng có không đối đãi nên không được gọi là bố. Muốn xét âm dương phải có cặp. Lưỡng nghi , nghi là nghi ngờ, nghi hoặc, nghi hoặc thì phải so sánh để làm rõ. Âm dương là một cặp, bởi vậy không có” cô âm”, “cô dương”.

Ví dụ: Nếu thế giới này không có đàn ông chỉ toàn đàn bà thì sẽ không có danh xưng đàn bà( vì đồng nhất giới tình nên không phân chia), không có danh xưng giới tính. Còn nếu nói đàn bà thì đã có hàm ý ngầm so sánh với đàn ông.

Âm Dương đối lập không thoát khỏi được phạm vi tình lý. Một vật phạm vi này là âm, phạm vi này là dương tuỳ từng phạm vi tình lý. Bởi vậy một vật không cố định sự âm dương. Vậy mới là Dịch- dịch là biến đổi thay đổi. Một vật không đặt trong phạm vi tình lý không có tính âm dương, và là thái cực.

Một vài vấn đề âm dương hay mắc sai lầm trong y học.

Câu hỏi 1: Bụng là âm hay là dương

Trả lời: Câu hỏi sai, không có phạm vi tình lý, không trả lời được.

Câu 2: Bụng và lưng, cái gì là âm, cái gì là dương.

Phạm vi vị trí : Bụng phía trước là dương, lưng phía sau là âm.

Phạm vi tính chất: Bụng mềm là âm, lưng cứng là âm.

Một số sách nói đây là âm trong dương, dương trong âm, hiểu như vậy không có tính ứng dụng, mà còn làm cho người đọc dễ loạn tâm, không làm rõ vấn đề.

Câu 3: Thận và bàng quang, cái gì là âm, cái gì là dương.

Xét phạm vi tính chất rỗng đặc: Thận đặc là âm, Bàng quang rỗng là dương.

Xét phạm vi vị trí: Thận cao hơn là dương, bàng quang thấp hơn là âm.

Câu 4: Hiểu như thế nào về: Âm thăng dương giáng.

Một số người thắc măc: tính của dương là nhẹ, là thăng sao lại giáng được. Tính của âm là nặng sao lại thăng được. Vả lại trên cao là vị trí của dương, thấp là vị trí của âm.

Sau khi đọc xong lý đối đãi của âm dương, chúng ta học được mọi mệnh đề đều phải đặt trong phạm vi tình lý mới xét được ý nghĩa, tính chất của nó. Câu” Âm thăng Dương giáng” phải đặt trong phạm vi tình lý: sự vận hành của các đường kinh âm dương.

Một số điều bạn cần nhớ sau khi đọc chương này:

Âm dương có đối đãi.

Nếu không đối đãi thì không có âm dương.

Xét âm dương cần phải có phạm vi tình lý.

Âm dương luôn thay đổi phụ thuộc phạm vi tình lý.

1.2 ÂM DƯƠNG TIÊU TRƯỞNG- ÂM DƯƠNG CHUYỂN HÓA

Chúng ta đã biết Âm Dương có tính đối lập: nóng là Dương, lạnh là Âm, sáng là Dương, tối là Âm. Ta dùng vạch liền(0) để biểu thị dương, vạch đứt(9) để biểu thị âm. Từ bây giờ ta gọi vạch liền(-) là hàĐồo Dương, vạch đứt(–) là hào Âm. Trong một ngày có nhiều thời điểm nóng lạnh, tối sáng với các mức độ cường độ khác nhau. Nếu chỉ dùng một hào âm dương chúng ta khó có thể biểu diễn chi tiết các mức độ sáng- tối, nóng- lạnh khác nhau. Bởi vậy chúng ta sẽ dụng 6 hào( Lục hào) để biểu diễn.

Trong một ngày người ta chia ra làm 12 canh giờ, với tên gọi của thập nhị địa chi bao gồm: giờ Tý( từ 23h-1h hôm sau), Sửu( 1h- 3h), Dần(3h- 5h), Mão( 5h- 7h), Thìn( 7h- 9h), Tỵ( 9h- 11h), Ngọ(11h- 13h) , Mùi( 13h- 15h), Thân( 15h-17h) , Dậu( 17h- 19h), Tuất( 19h- 21h), Hợi( 21h- 23h).

Ta lần lượt đặt 12 canh giờ vào thập nhị cung như sau:

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image.png
Âm Dương nhật nguyệt vận hành đồ

Giải thích: Âm Dương nhật nguyệt vận hành đồ

Vào giờ Tý lúc 23 giờ đến 1 giờ, là lúc nửa đêm trời tối nhất lạnh nhất trong ngày, vậy nên giờ này Âm nhiều nhất, ta dùng 6 hào âm để biểu thị. 6 hào âm là quẻ Thuần Khôn.

Vào lúc giờ Ngọ 11-13 giờ, lúc này là lúc giữa trưa, trời nóng nhât, sáng nhất. Do vậy giờ này Dương nhiều nhất, ta dùng 6 hào dương để biểu thị. 6 hào dương là quẻ Thuần Càn.

Từ giờ Tý đến giờ Ngọ, trời từ từ sáng dần, ấm dần. Như vậy có sự chuyển dịch từ Âm sang Dương: Dương trưởng, Âm tiêu. Cụ thể:

Giờ Sửu: trời bắt đầu sáng hơn, ấm hơn, hào Dương được sinh ra từ cực Âm, giờ này 5 hào âm ở trên và 1 hào dương ở dưới. Do hào âm vẫn có nhiều hơn hào dương nên trời lúc nào vẫn tối và lạnh mặc dù dương đã sinh. Quẻ ở giờ sửu là Địa Lôi Phục

Giờ Dần: Thêm một hào Dương được sinh ra, lúc này ta có 4 hào âm ở trên 2 hào dương ở dưới. Quẻ này là Đại Trạch Lâm, giờ này hào âm vẫn nhiều hơn hào dương nên giờ này trời vẫn tối và lạnh.

Giờ Mão: đây là mốc rất quan trọng. Thêm một hào Dương được sinh ra vào giờ này. Vào thời khắc 5 giờ, thêm một hào dương được sinh ra, lúc này ta có 3 hào âm, 3 hào dương. Âm Dương bằng nhau.Sau thời khắc này, Dương tiếp tục sinh và chính thức nhiều hơn Âm, bởi vậy thời khăc này gọi là bình minh, là thời khắc những ánh sáng đầu tiên của ngày mới mà ta nhìn thấy. Từ thời điểm này trở đi dương nhiều hơn âm vậy nên trời đã sáng hẳn, ta nhìn rõ cây cỏ vạn vật. Giờ này là giờ Mão là lúc con mèo sau một đêm bắt chuột, nhìn thấy ánh sáng đầu tiên thì đi nghỉ ngơi. Quẻ ở giờ này là quẻ Địa Thiên Thái, Thái là tràn đầy, trải khắp nơi nơi, vậy nên người ta gọi giờ này là “tam dương khai thái”.

Giờ Thìn: Thêm một hào dương nữa được sinh ra, lúc này ta có 2 hào âm và 4 hào dương. Lúc này Dương rõ ràng đã nhiều hơn âm, trời sáng rõ, hơi ấm của mặt trời khắp nơi. Quẻ này gọi là Lôi Thiên Đại Tráng.

Giờ Tỵ: Giờ này có 1 hào âm và 5 hào dương. Quẻ Trạch Thiên Quải.

Giờ Ngọ: 6 hào Dương quẻ Thuần Càn.

Từ giờ Ngọ đến giờ Tý: từ trưa đến chiều đến tối, trời bắt đầu tắt nắng dần, hơi ấm bớt dần, đến giờ Tý thì lạnh nhất, tối nhất, vậy lên khoảng thời gian là khoảng thời gian Âm trưởng Dương tiêu:

Giờ Mùi: Mặc dù trời vẫn còn nắng, còn ấm nhưng ánh nắng đã dịu đi hơn so với giờ Ngọ. Âm sinh ra khi cực Dương( 6 hào dương) ta được quẻ Thiên Phong Cấu.

Giờ Thân: tương tự giờ Mùi, nắng đã bớt đi hơn. Quẻ Thiên Sơn Độn.

Giờ Dậu: Thêm một hào Âm được sinh ra, vào thời khắc 17 giờ, ta có 3 hào âm, 3 hào dương, âm dương bằng nhau, từ thời khắc này trở đi, Âm sinh ra thêm và Âm nhiều hơn Dương, nên trời bắt đầu tối đi và không còn nhìn thấy mặt nhau nữa. Giờ Dậu là giờ gà lên chuồng, có nghĩa là thời điểm trời nhập nhoạng tối, giao thoa giữa sáng và tối. Thời điểm này gọi là hoàng hôn. Quẻ này là quẻ Thiên Địa Bỉ.

Giờ Tuất: Thêm một hào Âm được sinh ra. Lúc này hào Âm là 4 hào dương là 2 hào, Âm rõ ràng nhiều hơn Dương, vậy nên lúc này trời đã tối hẳn.  Quẻ Phong Địa Quán.

Giờ Hợi: Lúc này ta có 5 hào âm và 1 hào dương. Quẻ Sơn Địa Bác.

Giờ Tý: 6 hào Âm. Quẻ Thuần Khôn.

Nhận xét:

“ Vật cực tắc biến, vật cùng tất phản”: vào giờ Tý chuyển sang giờ Sửu, Âm đã ở cực, trời lạnh nhất, tối nhất là 6 hào Âm. Vật cực thì biến, vật cùng thì phản vậy nên Âm biến thành Dương, Âm phản phục mà đổi chiều, đổi tính chất mà thành Dương, vậy nên Cực Âm sinh ra Dương vào giờ Sửu mà biến quẻ Thuần Khôn thành Địa Lôi Phục. Tương tự từ giờ Ngọ sang giờ Mùi là cực Dương sinh Âm.

Âm Dương tiêu trưởng: cứ mỗi hào Âm được sinh ra thì một hào Dương mất đi, và ngược lại. Âm Dương tiêu trưởng giống như quy luật bảo toàn năng lượng: “ Năng lượng không tự sinh ra, không tự mất đi, nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác”.

Lục xung: gồm có Tý- Ngọ, Mão- Dậu, Thìn- Tuất, Sửu- Mùi, Dần- Thân, Tị- Hợi. Các vị trí lục xung này đều đối đãi, đối xứng với nhau với nhau. Ví dụ giờ Dần- Thân, giờ Dần 4 hào âm ở trên, 2 hào dương ở dưới, giờ Thân 4 hào ở trên 2 hào âm ở dưới. Nếu đổi các hào Âm thành Dương, Dương thành Âm từ quẻ Địa Trạch Lâm( ở giờ Dần) thì ta được quẻ Thiên Sơn Độn ở giờ Thân. Bởi vậy ta gọi là Lục xung( xung khắc, xung đối nhau).

1.3 ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG

Hiện nay có 4 loại đồ hình âm dương:

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image-1.png
Các mẫu đồ hình âm dương

Thoạt nhìn, có vẻ những hình vẽ trên có vẻ giống nhau, chỉ cần xoay phải, xoay trái lộn ngược sẽ thành nhau, nhưng thật ra chỉ có một hình biểu thị biểu tượng Âm- Dương đúng.

Trước tiên muốn hiểu điều này cần phải giải thích, tại sao các cung trong Âm- Dương nhật nguyệt vận hành đồ lại nằm ở vị trí như vậy? Tại sao cung Hợi, cung Tý lại nằm ở góc phần tư dưới,cung Tỵ- Ngọ là nằm ở góc phần từ trên, cung Dần- Mão lại nằm ở góc phần tư trái, cung Thân- Dậu lại nằm ở góc phần từ trái.

Nếu dùng để biểu diễn các tháng trong năm, tháng 1 âm lịch là tháng Dần, các tháng tiếp theo đi theo chiều thập nhị địa chi. Bởi vậy các tháng Dần( tháng 1), tháng Mão( tháng 2) là mùa Xuân thuộc Mộc, Tỵ(tháng 4)  – Ngọ( tháng 5) là mùa hè thuộc Hoả, tháng Thân- Dậu( tháng 7-8) là mùa Thu thuộc Kim, tháng Hợi- Tỵ( tháng 10-11) là mùa Đông thuộc Thuỷ. Các tháng giao mùa 3-6-9-12( Thìn- Tuất- Sửu- Mùi) thuộc Thổ. Vị trí của Thuỷ thuộc Bắc phương, Hoả thuộc Nam phương, Mộc thuộc Đông phương, Kim thuộc Tây phương. Thổ thuộc trung ương. Xin lưu ý vị trí các hành trong kinh dịch được biểu diễn khác với sự biểu diễn phương hướng trong bản đồ địa lý hiện đại

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image-2.png

Quay trở lại đồ hình âm dương để xét xem đồ hình âm dương nào đúng. Theo Âm- Dương nhật nguyệt vận hành đồ ta thấy. Từ giờ Tý đến giờ Ngọ, có nghĩa là đi từ Bắc hướng đến Nam hướng thì dương bắt đầu sinh, từ 0 hào dương ở giờ Tý dần dần tăng lên 6 hào dương ở giờ Ngọ. Từ giờ Ngọ đến giờ Tý có nghĩa là đi từ Nam hướng đến Bắc hướng là giờ Âm sinh, từ 0 hào âm đến 6 hào Âm. Trong đồ hình Dương là màu trắng, Âm là màu đen.Dương sinh theo chiều từ Bắc đến Nam, Âm sinh theo chiều từ Nam đến Bắc. Như vậy chỉ có duy nhất đồ hình thứ 1 là đúng.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image-3.png


Phương Đông hành Mộc là vị trí của cung Dần- Mão, như đã phân tích ở trên giờ Mão là giờ mặt trời mọc, là giờ bình minh, Mão thuộc Mộc là hướng Đông nên mặt trời mọc hướng Đông. Giờ Dậu là giờ mặt trời lặn, là hoàng hôn, Dậu thuộc Kim là hướng Tây nên lặn đằng Tây.

Hình tròn nhỏ trắng nằm trong hình đen là tượng trưng cho Dương sinh ra trong cực Âm biểu hiện sự biến chuyển từ giờ Tý sang giờ Sửu. Hình tròn đen nhỏ nằm trong hình trắng là tượng Âm sinh ra trong cực dương là sự biến chuyền từ giờ Ngọ sang giờ Mùi. Từ 6 hoà dương sang 5 hào dương 1 hào âm.

Như vậy trong đồ hình Âm Dương có đủ những tính chất của Âm- Dương: Âm Dương đối lập là tượng màu trắng đen, Âm Dương tiêu trưởng là sự biến hoá của Âm Dương từ Bắc hướng đến Nam hướng và ngược lại, Âm Dương hỗ tương là vận hành luôn luôn được cân bằng theo vòng tròn, Âm Dương chuyển hoá là Dương sinh ra từ cực Âm và ngược lại.

1.4 ỨNG DỤNG ÂM DƯƠNG VẬN HÀNH ĐỒ

Ứng dụng trong dưỡng sinh

Nhân thân tiểu thiên địa, bởi vậy trời đất vận hành ra sao thì con người như vậy mà vận hành mới thuận tự nhiên, sức khoẻ mới được bền lâu. Từ cách vận hành của âm dương nhật nguyệt đồ ta biết được cách sinh hoạt và ăn uống phù hợp. Ta cần nhớ lại điều căn bản sau:

Âm là tối, là lạnh, ngoài ra âm còn là nghỉ ngơi, ăn uống.

Dương là sáng, là ấm còn là vận động.

Vào giờ Tý, trời tối nhất, lạnh nhất 6 hào âm, âm còn là nghỉ ngơi, vậy nên giờ này nghỉ ngơi tuyệt đối. Hoa Đà khuyên rằng, giờ này bắt buộc phải ngủ thật say, thật sâu giấc vì lẽ giờ này không có hào dương- hào vận động nào cả. Những người làm việc vào giờ này rất tổn hao sức khoẻ, do không có hào vận động nào nên hiệu suất làm việc giảm. Cần nghỉ ngơi giữ sức để tích luỹ dương khí để giờ Sửu một hào dương được sinh ra. Nếu vận động quá sức, làm việc vào giờ này hào dương không được sinh ra, chu kì chuyển hoá khí Dương sinh không được điều hoà, lâu dần dẫn đến khó ngủ mà tổn hao sức khoẻ. Vào giờ Sửu, giờ Dần,hào dương đã xuất hiện, mặc dù đã có hào dương, nhưng hào âm( hào nghỉ ngơi) vẫn lớn hơn hào vận động( hào dương) Vào giờ Sửu, giờ Dần,hào dương đã xuất hiện, mặc dù đã có hào dương, nhưng hào âm( hào nghỉ ngơi) vẫn lớn hơn hào vận động( hào dương) nên vẫn ngủ.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image-4.png

Vào giờ Mão, tam âm, tam dương, qua thời điểm tam âm tam dương, dương sinh lớn hơn âm, vậy nên trời đã sáng, dương nhiều hơn âm, vận động> nghỉ ngơi do vậy giờ Mão là giờ thức giấc vận động. Do dương mới sinh còn ít, còn non yếu nên chỉ vận động nhẹ nhàng. Tuyệt đối không vận động nặng, quá sức như tập gym, chạy bền, bơi,.. Do dương mới sinh còn non yếu, vận động quá mạnh làm tổn hao dương dẫn đến những giờ sau dương không sinh được nữa dẫn đến uể oải, mệt mỏi, buồn ngủ.

Giờ Thìn, 4 hào dương, 2 hào âm, dương đã lớn mạnh, giờ này thường là giờ làm việc của các cơ quan nhà nước. Lúc này dương khí đã đủ mạnh để lao động, làm việc.

Giờ Tỵ dương khí khá mạnh, là lúc chúng ta dễ tập trung làm việc nhất. Quẻ tượng của giờ này là Trạch Thiên Quải, Quải là quyết định, thích hợp cho việc ra các quyết định.

Giờ Ngọ, 6 hào dương, dương khí mạnh nhất, sau thời khắc giờ Ngọ này, Dương khí suy giảm, Âm khí sinh ra, vậy nên giờ trưa thường cảm thấy mệt mỏi. Cần ăn trưa vào giờ này, bởi vì ăn uống là âm, cần phải nghỉ ngơi, ăn uống để tích luỹ cái âm, để âm được sinh ra vào giờ Mùi.

Từ giờ Ngọ đến giờ Tý là từ chiều đến tối, là giờ của dương giảm, âm sinh bởi vậy buổi chiều hiệu suất làm việc thường không cao, ta cảm thấy uể oải, mệt mỏi.

Giờ Mùi, một hào âm đã sinh, làm việc cảm thấy hiệu suất giảm.

Giờ Thân, 2 hào âm, 4 hào dương, quẻ Thiên Sơn Độn, là là cất đi, giấu đi. Giờ này chúng ta nên hoàn tất công việc, thu dọn đồ đạc, giấy tờ để chuẩn bị ra về.

Giờ Dậu, tam âm, tam dương, sau thời khắc này, âm sinh nên âm nhiều hơn dương, nghỉ ngơi> vận động nên giờ này nên ngừng làm việc. Giờ này thường là giờ tan làm của các cơ quan. Giờ Dậu là giờ Dương tiêu, Âm trưởng, nên cần tiêu Dương bằng cách vận động mạnh: tập gym, tập chạy, thể thao. Âm trưởng cần ăn uống, tắm rửa.

Giờ Tuất, 4 hào âm, 2 hào dương giờ này nên dành để nghỉ ngơi, quẻ Phong Địa Quán là quán chiếu, suy ngẫm. Giờ này là thời gian dành để suy ngẫm những việc đã làm trong ngày, hoặc ngồi thiền.

Giờ Hợi: 5 hào âm, 1 hào dương, đi ngủ.

Tóm lại có một số lưu ý như sau: Thức dậy vào giờ Mão, đi làm vào giờ Thìn, nghỉ trưa vào giờ Ngọ, tan làm vào giờ Dậu, đi ngủ trước giờ Tý. Không vận động mạnh vào buổi sáng, tập thể thao vào buổi chiều.

Hỏi: Tôi thường nghe nói” ăn sáng như một vị vua, ăn trưa như hoàng tử, ăn tối như kẻ ăn mày”, điều đó có đúng theo Âm Dương Nhật Nguyệt vận hành đồ không?

Đáp: Điều đó là không đúng. Câu trên bắt nguồn từ các nước của phương Tây, phương Tây việc vận hành âm dương hoàn toàn khác, vào giờ Mão trời chưa sáng, vào giờ Dậu trời chưa tắt nắng bởi vậy việc sinh hoạt của họ không theo Âm Dương nhật nguyệt đồ của nước ta. Vào buổi sáng, dương đang sinh, vậy nên năng lượng vốn đã nhiều, ta chỉ cần ăn nhẹ một chút là đã có đủ năng lượng làm việc đến trưa. Nếu ăn bữa sáng quá nhiều âm nhiều quá, dương không sinh được dẫn đến mệt mỏi, uể oải, mất ngủ.

Vận dụng âm dương nhật nguyệt đồ trả lời một số câu hỏi liên quan đến y học:

Hỏi : Tại sao ngày xưa, người ta hay chém đầu bệnh nhân vào giờ Ngọ 3 khắc.

Trả lời: Ngày có 12 canh giờ, mỗi giờ có 6 khắc, Ngọ 3 khắc là chính Ngọ là thời điểm 12 giờ trưa, trời nóng nhất, sáng nhất, dương khí nhiều nhất. Trời nhiều dương khí, vậy nên người khí dương nhiều nhất. Phàm con người chết chỉ khi hao kiệt dương khí. Bởi vậy mà mà các thuốc cấp cứu hồi dương cứu nghịch với người sắp chết đều là các thuốc vị cay nóng bổ dương, bổ khí như nhục quế, phụ tử,… Khi chém đầu vào giờ này, dương khí thịnh, nên thoát ra nhanh, thoát ra hết vậy nên bệnh nhân thường chết nhanh. Tương truyền nếu lúc chém đầu mà trời tối sầm lại là nghịch thiên phạm nhân sẽ được tha chết.

Hỏi: dân gian ta thường khuyên, kiêng giao hợp vào buổi trưa vì dễ sinh ra con yếu, dị tật.

Trả lời: Con được sinh ra đều nhờ vào tinh cha, huyết mẹ, tinh huyết thuộc âm, vào giờ trưa, dương khí thịnh, âm huyết, âm tinh từ đó mà suy. Dẫn đến thai nhi yếu.

Hỏi: tại sao người khí hư, dương hư buổi chiều dễ cảm thấy mệt .

Trả lời: Buổi chiều, dương tiêu, âm trưởng, khí thuộc dương vậy nên khí đã hư chiều lại càng hư yếu hơn do vậy mà mệt.

Hỏi: Tại sao những người âm hư  ra mồ hôi về đêm( đạo hãn)

Trả lời: Đêm âm thịnh do vậy mà ra mồ hôi về đêm.

Xem thêm: Khóa học Lục Khí cơ bản.

Xem thêm: Khóa học Đông Y cơ bản và vấn chẩn

1.5. TỨ TƯỢNG

Tứ tượng gồm 4 tượng: Thái Âm, Thiếu Âm, Thái Dương, Thiếu Dương.

Thái Âm: là âm nhiều, tràn đầy.

Thiếu Âm: là âm ít ỏi, bé nhỏ.

Thái Dương: là dương nhiều, tràn đầy, lớn mạnh.

Thiếu Dương: là dương ít, bé nhỏ, ít ỏi.

Nếu như Âm Dương thể hiện tính đối lập của vạn vật, thì tứ tượng thể hiện cường độ, mức độ của vạn vật.

Tứ tượng là chu kì vận động của vạn vật là sinh- trưởng- thu- tàng, là bốn mùa xuân- hạ- thu- đông, là vòng đời: sinh- lão- bệnh- tử, là từ đức: nhân- nghĩa- lễ- trí, là bốn thời kì: nguyên- hanh- lợi- trinh của kinh dịch.

Nếu như ta dùng vạch đứt để biểu diễn Âm, thì Thái Âm là Âm tràn đầy, ta dùng 2 hào âm để biểu diễn Thái Âm , tương tự ta dùng hai hào Dương để biểu Thái Dương .

Thiếu Âm là Âm ít ỏi non kém, được sinh ra từ Thái Dương, bởi vì” vật cùng tắc biến, vật cực tất phản”, Thái Dương là dương nhiều, tràn đầy khi Dương nhiều quá sẽ phản phục mà sinh Âm, Âm mới sinh còn non yếu nên gọi Thiếu Âm. Âm sinh ra ở chỗ cùng cực( hào âm ở dưới).

1.6.  SỰ HÌNH THÀNH HAI KHÍ QUYẾT ÂM VÀ DƯƠNG MINH

Với những người học Đông Y ta thường quen thuộc với các danh từ Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương tuy nhiên còn 2 danh từ nữa là Quyết Âm và Dương Minh. Ví dụ như kinh Túc Quyết Âm Can, Thủ Quyết Âm Tâm Bào, Thủ Dương Minh Đại Trường Kinh, Túc Dương Minh Vị Kinh,… Các danh từ Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương thuộc vào Tứ tượng như ta đã biết. Vậy còn Quyết Âm, Dương Minh là gì? Các sách Đông Y cũng không nhắc đến sự hình thành các khí Dương Minh, Quyết Âm. Phần này tôi xin trình bày sự hình thành hai khí này theo những gì người thầy quá cố của tôi đã từng dạy- thầy Thuận Phong- Trần Văn Hà. Trước hết chúng ta cùng nhìn lại Âm Dương Nhật Nguyệt đồ:

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image-5.png

Ta cần phải nhớ lại:

Thái Dương là dương khí dày đặc bao trùm khắp nơi

Thiếu Âm là âm sinh trong dương, âm còn non yếu.

Thái Âm là âm trong âm, âm khí dày đặc, đen và tối.

Thiếu Dương là dương sinh trong âm, dương còn non yếu.

Cùng phân tích tên gọi của của Dương Minh và Quyết Âm. Dương là khí Dương, Minh là Sáng. Dương Minh là Dương Sáng, Quyết Âm: Quyết là quả quyết, chắc chắn, Âm là khí Âm.

Vào giờ Tý, trời lạnh, nhất tối nhất biểu diễn bởi 6 hào âm, vào giờ này âm nhiều nhất, vậy nên khí của giờ Tý là Thái Âm.

Vào giờ Sửu, giờ Dần, dương khí đã được sinh ra từ khí tuy nhiên dương khí mới sinh vẫn còn ít ỏi, non yếu, 4 hào âm mà chỉ có 2 hào dương. Vậy nên khí giờ này gọi là khí Thiếu Dương. Tuy hai giờ này đã có hào dương, nhưng trời vẫn tối, nên không được gọi là Dương Minh.  

Từ thời điểm giờ Mão, Thìn, Tỵ dương khí đã lớn hơn, từ thời điểm giờ Mão trời đã sáng rõ ràng, thấy rõ vạn vật. Khí ở ba giờ này gọi là Dương Minh khí.

Giờ Ngọ, 6 hào dương, trời sáng nhất, nóng nhất là thời điểm Chí Dương, vậy nên giờ Ngọ mang khí Thái Dương.

Vào giờ Mùi, Thân, Âm khí đã sinh, trời bắt đầu dịu nắng dần, mát dần, hào âm sinh ra từ Thái Dương. Âm mới sinh nên còn non yếu, chỉ có 2 hào âm so với 4 hào dương. Khí 2 giờ này là khí Thiếu Âm.

Từ giờ Dậu đến giờ Hợi âm khí đã lớn mạnh, sau giờ Dần, hào âm lớn hơn hào dương, do vậy trời đã tối, không còn nhìn rõ vạn vật. Bởi vậy ta nói thời khắc này là Quyết Âm, quả quyết, chắc chắn rằng đã có khí âm. Mặc dù giờ Mùi, giờ Thân đã có hào âm, nhưng trời chưa tối, bởi vậy 2 giờ này không phải Quyết Âm.

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image-7.png

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image-8.png

Ta biểu diễn Thiếu Dương khí bằng 3 hào âm ở trên 1 hào dương ở dưới, khí Dương Minh bằng 2 hào âm ở trên, 2 hào dương ở dưới, khí Thiếu Dương bằng 4 hào Dương. Biểu diễn khí Thái Âm bằng 4 hào Âm, khí Quyết Âm bằng 2 hào Dương ở trên 2 hào Âm ở dưới, Thiếu Âm bằng 3 hào dương ở trên, 1 hào âm ở dưới.

Sự vận hành của các khí như sau:

Khí dương vận: Thiếu Dương -> Dương Minh -> Thái Dương.

Khí âm vận: Thiếu ÂM-> Quyết Âm -> Thái Âm.

Ta tóm tắt lại bằng đồ hình: Thiên khí vận hành đồ

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image-9.png

Những người học Đông Y đã rất quen với bài thơ sau:

Phế Dần, Đại Mão, Vị Thìn kinh

Tỳ Tỵ, Tâm Ngọ, Tiểu Mùi trung

Thân Bàng, Dậu Thận, Tâm Bào Tuất

Hợi Tam, Tý Đởm, Sửu Can thông.

Bài thơ này nói về thời gian hoạt động của các đường kinh trong một ngày. Giờ Dần là hoạt động của kinh Phế, Giờ Mão là sự hoạt động của kinh Đại Trường,… Người xưa đưa ra mà không giải thích gì thêm. Tôi may mắn được ân sư Thuận Phong chỉ dạy cách giải thích bài thơ này.

Trước hết cần phải hiểu một câu trong nội kinh 68:

”Thiếu Dương chi thượng, hoả khí trị chi, trung kiến quyết âm.

Dương Minh chi thượng, táo khí trị chi, trung kiến thái âm.

Thái Dương chi thượng, hàn khí trị chi, trung kiến thiếu âm.

Quyết Âm chi thượng, phong khí trị chi, trung kiến thiếu dương.

Thiếu Âm chi thượng, nhiệt khí trị chi, trung kiến thái dương

Thái Âm chi thượng, thấp khí trị chi, trung kiến dương minh.

Sở vĩ bản dã, bản chi hạ trung tri kiến dã, trung kiến chi hạ, khí chi tiêu dã, bản tiêu bất đồng di tượng.”

Con người sống trong tự nhiên bởi vậy, con người bẩm thụ khí tự nhiên làm bản khí. Tuy nhiên khí tự nhiên là vô hình, do vậy bản khí cũng vô hình. Bản khí muốn hiện hành thành Kinh khí( ví dụ khí Dương Minh muốn hiện thành kinh Dương Minh) thì phải qua một kênh khí trung chuyển gọi là Trung Khí.
Tôi xin tóm lược nội kinh 68 thành Lục Vi Chỉ đồ.( xem hình dưới)

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image-10.png

Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là image-11.png

Vậy khi Thiên khí được bẩm thụ từ bên ngoài vào con người thành bản khí, bản khí này trung chuyển qua trung khí và hiện hành ra thành kinh khí( tiêu khí). Thiên khí vận hành chúng ta đã biết, nay Phối Thiên khí vận hành đồ và Lục Vi Chỉ đồ ta được Trung Khí Dương Vận và Trung Khí Âm Vận. Hai đồ hình này là sự vận hành của trung khí trong cơ thể

1.7.  SỰ TỒN TẠI CỦA HÀNH THỬ

Trong nội kinh có nói: “trời nuôi người bằng lục khí, đất nuôi con người bằng ngũ vị”. 6 thứ khí của trời là Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hoả, 5 vị của đất là chua, cay, đắng, mặn, ngọt. Con người vận dụng điều đấy mà dùng thuốc đủ ngũ vị mà chữa bệnh là vận dụng khí của Đất, khí của Âm. Vậy dụng khí của Trời, khí của Dương để châm cứu cũng phải đủ lục khí, lẽ nào thiếu khí nào? Lại nói về” trời nuôi người bằng lục khí”, con người bẩm thụ khí của trời nên trong người cũng hình thành Lục khí. Do vậy mà trong nội kinh 68 Thiên Lục vi chỉ đại luận nói:

Thiếu Dương chi thượng, hoả khí trị chi, trung kiến quyết âm.

Dương Minh chi thượng, táo khí trị chi, trung kiến thái âm.

Thái Dương chi thượng, hàn khí trị chi, trung kiến thiếu âm.

Quyết Âm chi thượng, phong khí trị chi, trung kiến thiếu dương.

Thiếu Âm chi thượng, nhiệt khí trị chi, trung kiến thái dương

Thái Âm chi thượng, thấp khí trị chi, trung kiến dương minh.
Có nghĩa là trên kinh Thiếu Dương, hỏa khí làm chủ( trị chi) trên kinh Dương Minh táo khí làm chủ,… Như vậy bẩm thụ Lục khí của trời mà con người ta cũng có lục khí là hoả khí, táo khí, hàn khí, phong khí, nhiệt khí, và thấp khí. Từ 6 thứ khí này ta hình thành nên các đường kinh Thiếu Dương, Dương Minh, Thái Dương, Quyết Âm, Thiếu Âm, Thái Âm. Ta châm cứu trên các đường kinh này không phải là đang dụng lục khí hay sao?
Người xưa quen thói dụng thuốc mà gộp hoả khí và nhiệt khí lại làm một mang hành Hoả, bởi vậy mới có ngũ hành Kim( táo khí), Mộc( Phong khí), Thuỷ( hàn khí), Thổ( thấp khí), Hoả( nhiệt khí, hoả khí). Và tuân theo quy luật ngũ hành Mộcà Hoảà Thổà Kimà Thuỷà  Mộc.

Không thể hợp nhất được Nhiệt Khí và Hỏa Khí thành hành Hỏa bởi vì Nhiệt Khí và Hỏa Khí có tính chất không giống nhau.
Muốn hiểu rõ được điều này cần phải hiểu bài thơ này trong kinh dịch:

Thiên nhất sinh Thủy, địa lục thành chi

Địa nhị sinh hỏa, thiên thất thành chi

Thiên tam sinh mộc, địa bát thành chi

Địa tứ sinh kim, thiên cửu thành chi

Thiên ngũ sinh Thổ, địa thập thành chi

Sau khi trời đất phân rõ sắc huyền hoàng, nước được hình thành đầu tiên( Thuỷ), sau đó là lửa. Thứ lửa này không phải do Mộc sinh ra bởi vì Thiên tam mới sinh Mộc, thứ lửa này là lửa của sấm sét mà sinh ra.  Loại lửa này là chân hoả, thử lửa mà theo cụ Hải Thượng Lãn Ông đổ nước vào thì cháy thêm, thêm lửa vào thì mong chóng lụi tàn. Bởi thứ lửa này đến từ sấm sét.  Mưa càng to thì sấm sét càng dữ, trời nắng lên thì sấm sét ngừng đánh. Do vậy thứ lửa này thích nước sợ lửa. Khác với đặc tính của Tướng Hoả là loại hoả chúng ta vẫn dùng để nấu cơm, sưởi ẩm, là loại lửa thích lửa sợ nước. Có nghĩa là đổ nước vào thì tắt, thêm lửa vào thì bùng cháy. Cái thứ lửa này do Mộc sinh ra. Người xưa tạo ra nó bằng cách cọ xát 2 khúc gỗ để tạo ra lửa. Do tính chất của hai loại hỏa này khác nhau, do vậy không thể hợp nhất Quân Hỏa và Tướng Hỏa này lại với nhau. Và chỉ có Thủy khắc được Tướng Hỏa( thứ lửa sợ nước) chứ không khắc được Quân Hỏa, thậm chỉ còn sinh được Quân Hỏa( vì thứ lửa thích nước).


Thứ Chân Hỏa( Quân Hỏa) được sinh ra từ Địa nhị, là sinh ra từ sấm sét, khi trời mưa. Vậy chân hỏa là sấm sét. Mưa càng to sấm sét càng lớn, trời hửng nắng thì sấm tắt, bởi vậy thứ hỏa này thích nước, sợ lửa. Sấm sét tượng là quẻ Chấn, đại diện cho hành Thử.

 

 

Comments are closed.