Chương 2: ĐẢO DỊCH

2.1. Nạp quẻ

2.2. Biểu thị huyệt

2.3. Nạp quẻ Lạc Khích

2.4. Đảo dịch

2.5. Ca bệnh

2.6. Tứ bộ huyệt

2.1. NẠP QUẺ

Ở cuốn” Hướng dẫn học châm cứu lục khí”. Chúng ta đã biết, mỗi tạng phủ, mỗi huyệt đều mang một hành. Và mỗi hành đều được đại diện bởi một quẻ trong bát quái. Cụ thể như sau:

Chúng ta đã biết kinh dịch có bát quái. Chúng ta đã biết kinh dịch có bát quái gồm có Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. 6 hành tương ứng với 6 quẻ vậy hai quẻ Càn, Khôn ứng với huyệt nào? Hai quẻ Càn Khôn ứng với hai huyệt Lạc, Khích của các đường kinh. Chúng ta sẽ nghiên cứu ở phần sau.

2.2. SỰ BIỂU THỊ HUYỆT LỤC KHÍ BẰNG QUẺ DỊCH

Chúng ta đã biết các tạng phủ đều mang hành, và các huyệt lục khí trên mỗi tạng phủ đều mang hành. Để xác định hành của huyệt ta làm như sau( chi tiết xin xem “Hướng dẫn học châm cứu lục khí cơ bản):

Ví dụ 1: Xác định hành của huyệt Thái Uyên.

B1: Xác định hành của đường kinh: huyệt Thái Uyên thuộc kinh Phế, kinh Phế thuộc hành Kim.

B2: Liệt kê các huyệt của đường kinh, xác định hành của huyệt.

PhếTĩnhVinhDu KinhHợp
HuyệtThiếu ThươngNgư TếThái UyênKinh CừXích Trạch
KimThủyThửMộcHỏaThổ

Ví dụ Thái Uyên là huyệt hành Mộc trên kinh hành Kim. Hành Kim là tượng quẻ Đoài( vi Trạch) , hành Mộc là tượng quẻ Tốn vi Phong. vậy huyệt Thái Uyên biểu thị bởi quẻ Phong Trạch Trung Phu. Nên nhớ hành của huyệt xếp ở trên hành của kinh xếp ở dưới.

 

Quẻ Phong Trach Trung Phu

Ví dụ 2: Hành của huyệt Hợp Cốc.

B1: Huyệt Hợp Cốc thuộc kinh Đại Trường, kinh Đại Trường hành Thổ.

B2:

Đại Trường Tĩnh Vinh Du Nguyên Kinh Hợp
Huyệt Thương Dương Nhị Gian Tam Gian Hợp Cốc Dương Khê Khúc trì
Thổ Kim Thủy Thử Mộc Hỏa Thổ

B3: Kết luận Huyệt Hợp Cốc là huyệt hành Mộc trên kinh hành Thổ. ( ) tượng quẻ Phong Sơn Tiệm

Quể Phong Sơn Tiệm

2.3 NẠP QUẺ CHO HUYỆT LẠC KHÍCH

Ngoài ngũ du huyệt, y dịch lục khí còn sử dụng các huyệt Lạc, Khích trong điều trị( Cụ thể xin xem mục” Điều chỉnh mạch”). Huyệt Lạc, Khích tuy không mang hành nhưng vẫn có quẻ dịch biểu thị. Huyệt Lạc kinh âm, Khích kinh dương biểu diễn bởi quẻ Khôn. Huyệt Lạc kinh dương, Khích kinh âm biểu diễn bởi quẻ Càn .

Quẻ Càn


Quẻ Khôn

Ví dụ 1: Huyệt Đại Chung là huyệt Lạc của kinh Thận. Kinh Thận là kinh âm, Thận thuộc Thủy. Vậy quẻ biểu thị là Thiên Thủy Tụng.

Thiên Thủy Tụng
Địa Sơn Khiêm

Dưới đây là bảng nạp quẻ các huyệt lục khí:

Bảng nạp quẻ
Bảng nạp quẻ
Bảng tra cứu quẻ dịch
Bảng tra cứu quẻ dịch

2.4.  ĐẢO DỊCH

Trong hệ thống huyệt lục khí trừ hai huyệt Lạc, Khích, những huyệt có hành còn lại đều nối thông với các huyệt khác thông qua quy tắc Dịch Đảo. Quy tắc dịch đảo như sau: Nếu đổi chỗ nội quái và ngoại quái của một quẻ dịch ta được một quẻ dịch mới gọi là quẻ dịch đảo. Huyệt tượng trưng cho quẻ dịch đảo này là huyệt nối với huyệt ban đầu.

Ví dụ 1: huyệt Thái Uyên tượng quẻ là Phong Trach Trung Phu , khi đảo dịch ta đảo ta được quẻ mới là Trạch Phong Đại Quá .Quẻ Đại Quá này đại diện cho hai huyệt Thái Xung và Trung Chữ. Như vậy huyệt Thái Uyên này nối với huyệt Thái Xung và huyệt Trung Chữ.

Ví dụ 2: Huyệt Hợp Cốc tượng quẻ là Phong Sơn Tiệm. Đảo dịch của quẻ này là Sơn Phong Cổ . Quẻ Cổ được biểu diễn cho hai huyệt Hành Gian và Dịch Môn. Như vậy huyệt Hợp Cốc nối với hai huyệt Hành Gian, Dịch Môn.

Ứng dụng của đảo dịch trong điều trị đau.

Phương pháp đảo dịch có thể áp dụng điều trị các cơn đau tay, chân ở các vị trí huyệt lục khí. Cụ thể như sau:

Bước 1: Xác định vị trí đau, vị trí đau có thể chính là vị trí của huyệt lục khí, nếu vị trí đau không là huyệt lục khí thì hãy tìm huyệt lục khí ở gần chỗ đau.

Bước 2: Xác định huyệt đảo dịch của huyệt đau.

Bước 3: Châm huyệt đảo dịch.

Lưu ý: Khi dùng phương pháp này, TUYỆT ĐỐI không châm huyệt đau chỉ châm huyệt đảo dịch, nếu châm huyệt đau bệnh nhân sẽ đau thêm.

2.5.  MỘT SỐ CA BỆNH CHỮA BẰNG ĐẢO DỊCH

Case 1: BN Nguyễn Văn N, địa chỉ Cầu Giấy, Hà Nội, 32 tuổi, đến khám vì đau cổ tay phải vùng huyệt Uyển Cốt, Dương Cốc sau chơi tenis. Đau hơn 1 tuần.

Phân tích: Vị trí đau vùng huyệt Uyển Cốt huyệt đảo dịch là huyệt Nhị Gian, Đại Đô. Huyệt đảo dịch của huyệt Dương Cốc là huyệt Thiếu Thương, Chí Âm.

Châm 4 huyệt trên 4 ngày bệnh nhân hết đau.

Case 2: Nguyễn Văn D, 21 tuổi, Trần Phú, Hà Đông. Đau cổ tay phải sau tai nạn xe máy vùng huyệt Dương Trì, cổ tay gập duỗi đau.

Phân tích: Huyệt nối của huyệt Dương Trì là huyệt Tiền Cốc, Nhiên Cốc.


Châm 3 ngày bệnh nhân hết đau.


Case 3: Dương ĐÌnh H, 60 tuổi, Hải Dương. Gout 10 năm. Đợt này cơn gout cấp sưng đau 2 ngón chân cái.

Vị trí đau này thuộc hai huyệt Đại Đô, Thái Bạch. Huyệt nối với huyệt Đại Đô là Uyển Cốt, Phục Lưu. Huyệt nối với huyệt Thái Bạch là Thần Môn, Túc Lâm Khấp.

Châm ngày 1 đỡ đau, ngày 2 hết sưng, ngày 3 khỏi

Case 4:

Phạm Thị L, 65 tuổi, Bạch Mai, Hà Nội. Sưng đau mắt cá ngoài vùng huyệt Khâu Khư, Côn Lôn đi lại đau nhiều sau ngã cầu thang.

Châm huyệt Thương Dương, Ẩn Bạch, Ngư Tế, Thông Cốc. Sau 1 tuần bệnh nhân hết đau.

Case 6:

Lê Thị V, 40 tuổi, Hà Đông, Hà Nội. Đau cổ tay phần huyệt Thái Uyên do viêm gân dạng ngón cái. Dạng khép ngón cái khó khăn.

Châm huyệt Thái Xung, Trung Chữ.

15 ngày bệnh nhân hết đau.

2.6 . TỨ BỘ HUYỆT

Thiếu Xung- Túc Khiếu Âm- Khúc Tuyền- Chi Cấu

Luận giải: Huyệt Thiếu Xung, Túc khiếu âm biểu diễn bởi quẻ Lôi Phong Ích. Ích là tiến thêm, vượt thêm, lao tới. Nếu như nước( Thuỷ) có tính “ nước chảy chỗ trũng” thì lửa( Hoả) luôn có xu hướng hướng lên bốc lên. Bởi vậy “ Ích” chính là tính chất của Hoả khí, của Can hoả, Tâm hoả. Can hoả, Tâm hoả bốc lên bởi vậy gây ra đau đầu, đau ngực, mờ mắt, ù tai, trống ngực…

Hằng là bền vững, chậm chạp. Hằng- Ích có nghĩa là thanh nhiệt, thanh hoả,, dập hoả đang bốc lên. Bởi vậy 4 huyệt của nhóm này đều có tác dung tả hoả. Thiếu Xung, Túc Khiếu Âm, Chi Cấu thanh nhiệt tả hoả, Khúc Tuyền dưỡng âm mà tả hoả. Đúng là một cặp âm dương.

Thiếu Phủ- Hiệp Khê- Giản Sử- Xung Dương

Luận giải:Phệ Hạp: Phệ là cắn, Hạp là hợp. Quẻ Phệ hạp quẻ trên dưới 2 hào dương cương, mà trong nhu. Ngoài cương mà mà trong hư là tượng cái miệng. Lại một hào cương giữa làm tượng có vật ở trong miệng. Trong miệng có một vật làm ngăn cách trên dưới không hợp được, phải cắn mới hợp được. Quẻ này tượng trưng cho khí bế không lên không xuống được. Ở đây nói đến Can khí uất kết. Khí của can vô tư, khoáng đạt vì tình chí uất ức mà kết lại. Gây ra chứng đau tức ngực sườn, mai hạch khí,.. Can khí uất kết mà phạm vào Vị gây chứng ăn không tiêu, bụng đầy chướng, sau ăn thường đau bụng.

Lôi Hoả Phong: Hanh, Vương cách chi, vật ưu, nghi nhật trung( thịnh lớn thì hanh thông,….). Phong có nghĩa là lớn mạnh hanh thông. Phong- Phệ Hạp có nghĩa là giải khí uất kết.

Cả 4 huyệt này đều thanh nhiệt, giải uất trong trường hợp Can khí uất kết mà ảnh hưởng đến Tâm khí, vị khí. Ngoài ra còn giải uất khí do Đờm ở thượng tiêu gây ra chứng đau ngực( huyệt Giản Sử, Xung Dương)

Thần Môn- Túc Lâm Khấp- Thái Bạch- Tam Gian

Luận giải: Di- Tiểu quá: Nuôi dưỡng cái thiếu, cái ít( bất túc), công dụng của cặp huyệt này là bổ Tâm huyết, Tâm âm,bổ Tỳ huyết, Tỳ âm. Công dụng của bộ này chữa chứng Tâm Tỳ đều hư gây ra các triệu chứng hồi hộp đánh trống ngực, mất ngủ, ăn kém,…  

Linh Đạo- Khâu Khư- Ngư Tế- Thông Cố

Luận giải: quẻ Trạch Lôi Tuỳ là Thuận dã. Quẻ Tốn vi Phong cũng là Thuận dã. Thuận dã có nghĩa là thuận theo, theo lên, theo xuống. Đấy là đặc tính của Phong tà trong Lục dâm. Khí trong cơ thể không thể đi Tuỳ tiện. Phế khí cần túc giáng, Tỳ khí cần phải thăng, Vị khí cần phải giáng. Khí đi nghịch lại đường đi của nó gây ra rối loạn( Qui muội). Bởi vậy 4 huyệt này điều chỉnh khí nghịch đặc biệt do Lục dâm( phong tà).   

Thiếu Hải- Dương Phụ- Dũng Tuyền- Thiếu Trạch

Luận giải: Giải- Truân có nghĩa là làm tan đi sự nguy hiểm. Giải tán, loan truyền, tuyên truyền, phân phát. Bởi vậy nhóm huyệt này có tác dụng định thận, đặc biệt do chứng Tâm hoả vượng, hoặc chứng Đờm mê tâm khiếu, Đờm hoả nội nhiễu.  

Nhiên Cốc- Tiền Cốc- Trung Phong- Dương Trì

Luận giải: Hoán là tán dã, là tán ra, phát ra, Tĩnh là tĩnh lăng, là tụ lại. Tán nhiều quá thì sinh ra chứng tự đổ mồ hôi( tự hãn), đái nhiều( Viêm bàng quang, tiểu đường,..), di tinh, sán khí( thoát vị). Tụ nhiều quá cũng sinh bệnh, các chứng thạch lâm( sỏi), táo bón, co cơ là do tụ mà ra. Tụ thì phải dùng tán để trị, tán thì dùng tụ để trị. 4 huyệt này chữa các chứng liên quan đến các chứng Tụ và Tán

Thái Khê- Hậu Khê- Đại Lăng- Hãm Cốc

Luận giải: Tính cách của Thuỷ là” nước chảy chỗ trũng” , Thuỷ luôn hướng xuống dưới, tính cách của Hoả ngược với Thuỷ là luôn bốc lên trên. Quẻ Ký Tế Thuỷ trên Hoả dưới, nước từ trên chảy xuống, Hoả từ dưới bốc lên mà gặp nhau. Trong đông y, Tâm là lửa là hoả, Thận là thuỷ là nước, Tâm- Thận giao nhau là Thuỷ Hoả Ký Tế, ngược lại, Hoả ở trên mà bốc lên, Thuỷ ở dưới chảy xuống dưới không giao hoà với nhau gọi là Tâm Thận bất giao. Chứng Tâm Thận bất giao này gây ra hiện tượng trên nhiệt dưới hàn, chân lạnh mà ngực nóng, hồi hộp đánh trống ngực, đau đầu, ù tai, đại tiện lỏng,… Các huyệt này điều trị chứng Tâm Thận bất giao

Đại Đôn- Quan Xung- Khúc Trạch- Giải Khê

Luận giải: Bệnh về khí gồm có khí gồm có khí hư, khí nghịch và khí trệ. Khí hư thì bổ khí, khí trệ thì hành khí, khí nghịch thì giáng khí. Đỉnh là làm cho bền vững. Gia nhân là làm cho đủ đầy. 2 quẻ này nói về chức năng lý khí của 4 huyệt này.


Thái Xung- Trung Chữ- Thái Uyên- Thúc Cốt

Luận giải: Quẻ Đại Quá, thoán từ Kinh Dịch viết: “ Đại quá, đống nạo, lợi hữu du vãng, hanh”. Tạm dịch: (Phần dương) nhiều quá( phần âm ít quá) như cái cột yếu, cong xuống( không chống nổi). Đại Quá có 4 hào dương ở trong, 2 hào âm ở ngoài, Dương nhiều mà lại ở trong. Dương thắng tắc động, từ đó sinh Phong, Phong ở trong nên là nội Phong nên quẻ này ý nói chứng Can Phong Nội Động.    

Trung Xung- Lệ Đoài- Âm Lăng Tuyền- Dương Khê

Luận giải: Quẻ Sơn Hoả Bí, núi ở trên, lửa ở dưới là tượng của núi lửa. lửa trực chờ phun trào. Ở đây nói đến chứng sốt do Ôn bệnh gây ra. Bí còn là thấu suốt, rõ ràng ý nói đến thần minh. Quẻ này muốn nói đến nhiệt bệnh ảnh hưởng đến thần minh như chứng nhiệt nhập tâm bào, nhiệt nhập huyết phận, nhiệt phận doanh phận sinh ra sốt mê man, nói lảm nhẩm, li bì, hôn mê. Quẻ Lữ còn có nghĩa là Khách, hai quẻ này ý muốn nói đến chứng hàn nhiệt vãng lai

Lao Cung- Nội Đình- Kinh Cừ- Kinh Cốt

Luận giải: Dành cho bạn đọc    


Comments are closed.