CHƯƠNG 3: CHẮP KINH

3.1. Lý thuyết chắp kinh

3.2. Điều trị đau

3.3. Ca bệnh

3.1. LÝ THUYẾT CHẮP KINH

Trong y dịch lục khí ta thường sử dụng các huyệt: Tĩnh, Vinh, Du, Kinh, Hợp. Sách xưa viết:” Sở xuất vi Tĩnh, sở lưu vi Vinh, sở trú vi Du, sở hành vi Kinh, sở nhập vi Hợp”.

Tĩnh: là nơi nguồn nước đi ra- khởi đầu của kinh khí( xuất vi Tĩnh).

Vinh( Huỳnh): nước lưu chuyển- kinh khí dịch chuyển( lưu vi Vinh).

Du: nơi nước dồn lại- kinh khí tụ lại( trú vi Du).

Kinh: nơi nước chảy qua, nơi kinh khí đi qua(hành vi Kinh).

Hợp: nơi nước nhập vào, nơi kinh khí nhập vào( nhập vi Hợp).

Vậy sau khi nhập vào huyệt Hợp thì kinh khí sẽ đi đâu tiếp? Để hiểu điều này cần phải hiểu sự vận hành kinh khí ngũ du theo y dịch lục khí.

3.1.1 Sự dịch chuyển kinh khí kinh Dương

Đường dịch chuyển kinh khí của kinh dương theo sơ đồ sau:

Để đơn giản hóa ta viết lại sơ đồ sau bằng dạng đường thẳng:

Ví dụ 1: Xét đường vận chuyển kinh khí của Đại trường, Vị, Tam Tiêu

T, V, D, K, H  viết tắt cho các từ Tĩnh, Vinh, Du, Kinh, Hợp.

Giải thích sơ đồ: kinh khí kinh Đại Trường bắt đầu từ huyệt Tĩnh( xuất vi tĩnh) sau đó đi qua các huyệt Vinh, Du, Kinh rồi nhập vào huyệt Hợp của kinh Đại trường( là huyệt Khúc Trì). Từ huyệt Hợp này, kinh khí của Đại Trường nhập vào Vị kinh, và từ đó Vị khí xuất ra từ huyệt Tĩnh. Sau đó từ huyệt Tĩnh Vị( Lệ Đoài) đi qua huyệt Vinh, Du, Nguyên, Kinh rồi nhập vào huyệt Hợp của Vị( Túc Tam Lý) từ đó lại khai mở ở huyệt Tĩnh của Tam Tiêu.

Ta thường nghe nói:” thông bất thống, thống bất thông”. Có nghĩa là thông thì không đau, đau có nghĩa là không thông, tắc nghẽn ở vị trí nào đó.

Trong cuộc sống ta thường thấy những chỗ nối, chỗ gấp khúc thường hay tắc nghẽn. Trong đông y cũng vậy, vị trí chuyển giao giữa các đường kinh là vị trí hay tắc nghẽn. Cụ thể trong ví dụ này là vị trí nối giữa Hợp Đại Trường( Khúc Trì) và huyệt Tĩnh Vị( Lệ Đoài), vị trí nối giữa Hợp của Vị với Tĩnh của Tam Tiêu.

Nếu tắc nghẽn ở đoạn nối giữa Hợp của Đại Trường và Tĩnh huyệt của Vị thì sẽ gây đau trên Đường Kinh Vị các vị trí dưới huyệt Hợp của Vị( Túc Tam Lý), vì khi kinh khí không chuyển sang huyệt Tĩnh thì các huyệt Vinh, Du, Kinh, Hợp cũng từ đó mà tắc theo. Tương tự, khí của huyệt Hợp  Đại trường không chuyển qua Vị, thì khí ở các huyệt Kinh, Du, Vinh, Tĩnh của Đại trường của ùn ứ gây ra đau trên huyệt hợp của Đại Trường. Nghe có vẻ khó hình dung, nhưng nếu không hiểu, hãy cứ đọc tiếp, đến phần ví dụ sẽ hiểu hơn.

3.1.2 Sự dịch chuyển kinh khí kinh Âm

Kinh Âm dịch chuyển kinh khí theo hình tam giác:

3.2 ỨNG DỤNG CỦA CHẮP KINH TRONG ĐIỀU TRỊ ĐAU

Những lý thuyết của chắp kinh trong y dịch lục khí được áp dụng để điều trị các cơn đau cấp tinh và mãn tính, các cơn đau ở vị trí cố định, kể các các cơn đau tê, đau lan cực kì hiệu quả và nhanh chóng.

Phạm vi áp dụng: Các cơn đau ở ở chi trên( từ vai trở xuống), chi dưới( ở mông trở xuống). Để điều trị các cơn đau ngoài vị trí này xin xem thêm phần chuyển huyệt và đảo dịch.

Các bước thực hiện:

Bước 1: Xác định chỗ đau

Chỗ đau có thể là một điểm, thì xác định điểm đó có trùng với huyệt nào không?, nếu chỗ đau là một vùng, một khoảng, hoặc đau lan thì xác định khoảng đó thuộc phạm vi chi phối của đường kinh nào( phần sau sẽ có hình ảnh giúp các bạn xác định).

Bước 2: Xác định đường kinh đau

Xem vị trí đau thuộc đường kinh nào. Nếu đau thuộc một điểm, một huyệt thì xác định huyệt đó thuộc đường kinh nào? Ví dụ bệnh nhân bị cơn gout cấp đau ngón chân cái phần mặt trong, thì đó thuộc kinh Tỳ( huyệt Thái Bạch, huyệt Công Tôn).

Nếu điểm đau không có định, là một vùng, một khoảng, hoặc đau lan, thì xác định đường lan đó thuộc đường kinh nào. Ví dụ các cơn đau thần kinh tọa: Các cơn đau lan từ lưng xuống mông, rồi xuống khoe, gót chân đi ra ngón chân út. Đường đi ấy là đường đi của kinh Bàng quang, nên ta xác định kinh Bàng Quang là kinh bệnh.

Bước 3: Sau khi xác định được đường kinh đau, hãy xem đó là đường kinh Âm hay đường kinh Dương.

Xác định huyệt Hợp của đường kinh đó, xem điểm đau, vị trí đau là vị trí trên huyệt hợp, hay dưới huyệt hợp.

Bước 4: Nếu là kinh Dương thì châm 3 huyệt: Hậu Khê, Trung Chữ, Tam Gian, vê đắc khí. Nếu là kinh Âm thì châm 3 huyệt Túc lâm khấp, Thúc Cốt, Hãm Cốc.

Bước 5: Châm huyệt Tĩnh và huyệt Hợp để khai thông chỗ tắc.

Bước 6: Thêm huyệt Nguyên Lạc Khích của kinh liên quan.


Để hiểu rõ thêm xin hãy đi vào đường kinh cụ thể, tôi sẽ giải thích rõ hơn:

Kinh Dương:

3.2.1 Kinh Bàng Quang

1. Đau trên huyệt hợp

Huyệt hợp của kinh Bàng Quang là huyệt Ủy Trung, huyệt Ủy Trung nằm ở chính giữa khoeo chân. Đau trên huyệt hợp là đau trên khoeo chân trở lên.

Vùng tô đậm là vùng kinh Bàng Quang chi phối. Tất cả điểm đau nằm trong vùng này đều thuộc phạm vi đau kinh Bàng Quang.


Đau trên huyệt Hợp của kinh Bàng Quang thường là kiểu đau do thần kinh tọa: Đau từ lưng lan xuống mông lan xuống khoeo chân. Toa huyệt này vì thế cũng chữa các chứng đau do thần kinh tọa.

Đau trên huyệt hợp do vậy kinh khí tắc nghẽn ở điểm nối giữa huyệt Hợp của kinh Bàng Quang và huyệt Tĩnh của kinh Đại Trường. Do vậy cần châm Hợp Bàng Quang và Tĩnh Đại Trường để khai thông. Châm Ủy Trung- Thương Dương.

Châm Nguyên, Lạc, Khích Đại Trường để phá bế: Hợp Cốc, Thiên Lịch, Ôn Lưu.

Vậy các huyệt cụ thể của toa châm này là:

1. Châm Hậu Khê, Trung Chữ, Tâm Gian

2. Châm Ủy Trung, Thương Dương.

3. Châm Hợp Cốc, Thiên Lịch, Ôn Lưu.

Kinh nghiệm khi áp dụng lâm sàng: châm huyệt ở cùng bên với bên đau. Có thể không châm huyệt Thương Dương thay bằng day bấm hoặc dán vẫn có kết quả tốt. Tôi đã áp dụng toa huyệt này để cấu chỉ, kết quả rất tốt. Chỉ cần cấy các huyệt Ủy Trung, Hợp Cốc, Thiên Lịch, Ôn Lưu, dặn bệnh nhân day bấm Thương Dương. Kết quả cũng rất tốt.

2. Đau dưới huyệt hợp:

Đau dưới huyệt hợp của kinh Bàng Quang là kiểu đau từ khoeo chân lan xuống bắp chân và lan ra ngón út.

Đau dưới huyệt Hợp là kết quả của sự tắc nghẽn kinh khí lưu chuyển từ huyệt Hợp Tiểu Trường đến huyệt tĩnh của Bàng Quang. Do không lưu chuyển được nên từ huyệt Tĩnh Bàng Quang đến huyệt Hợp Bàng Quang khí không lưu thông được gây đau.

Châm hợp Tiểu Trường( Tiểu Hải) và tĩnh Bàng Quang( Chí Âm) để khai thông.

Châm Nguyên, Lạc, Khích của Tiểu Trường để phá bế: Uyển Cốt, Chi Chánh Dưỡng Lão.

3.2.2 Kinh Đại Trường

Huyệt Hợp của kinh Đại Trường là huyệt Khúc Trì nằm ở khuỷu tay. Nên đau trên huyệt hợp là đau trên khuỷu tay. Đau dưới huyệt hợp là đau dưới khuỷu tay. Tất cả các chỗ in đậm là vùng huyệt Đại Trường chi phối.

1. Đau trên huyệt Hợp

Đau trên huyệt Hợp Đại Trường là đau từ đường nối huyệt Khúc Trì đến huyệt Kiên Ngung mặt ngoài của vai.
Đau trên huyệt Hợp là tắc nghẽn vị trí nối giữa huyệt Hợp của Đại Trường và huyệt Tĩnh của Vị.

Do vậy châm Khúc Trì- Lệ Đoài.

Châm thêm Nguyên, Lạc, Khích của Vị: Xung Dương, Phong Long, Lương Khâu để phá bế.

2. Đau dưới huyệt Hợp.

Do dưới huyệt Hợp là do tắc nghẽn vị trí nối giữa Hợp Bàng Quang và Tĩnh của Đại Trường. Cần châm huyệt Hợp Bàng Quang và huyệt Tĩnh Đại Trường. Châm Ủy Trung- Thương Dương.

Nguyên, Lạc, Khích của Bàng Quang: Thúc Cốt, Phi Dương, Kim Môn.

3.2.3 Kinh Vị


1. Đau trên huyệt Hợp.

Hợp Vị- Tĩnh Tam Tiêu: Túc Tam Lý- Quan Xung

Nguyên, Lạc, Khích Tam Tiêu: Dương Trì, Ngoại Quan, Hội Tông.

2. Đau dưới huyệt Hợp

Hợp Đại Trường- Tĩnh Vị: Khúc Trì- Lệ Đoài.

Nguyên, Lạc, Khích Đại Trường: Hợp Cốc,Thiên Lịch, Ôn Lưu.


3.2.4 Kinh Tam Tiêu

1. Đau trên huyệt Hợp

Hợp Tam Tiêu- Tĩnh Đởm: Thiên Tỉnh- Túc Khiếu Âm.

Nguyên, Lạc, Khích Đởm: Khâu Khư, Quang Minh, Ngoại Khâu.

2. Đau dưới huyệt Hợp

Hợp Vị- Tĩnh Tam Tiêu: Túc Tam Lý- Quan Xung

Nguyên, Lạc, Khích Vị: Xung Dương, Phong Long, Lương Khâu.


3.2.5 Kinh Đởm

1. Đau trên huyệt Hợp

Hợp Đởm- Tĩnh Tiểu Trường: Dương Lăng Tuyền- Thiếu Trạch

Nguyên, Lạc, Khích Tiểu Trường: Uyển Cốt, Chi Chánh, Dưỡng Lão.

2. Đau dưới huyệt Hợp

Hợp Tam Tiêu- Tĩnh Đởm: Thiên Tỉnh- Túc Khiếu Âm.

Nguyên, Lạc, Khích Tam Tiêu: Dương Trì, Ngoại Quan, Hội Tông.

3.2.6 Kinh Tiểu Trường


1. Đau trên huyệt Hợp

Hợp Tiểu Trường- Tĩnh Bàng Quang: Tiểu Hải- Chí Âm.

Nguyên, Lạc, Khích Bàng Quang: Kinh Cốt, Phi Dương, Kim Môn.

2. Đau dưới huyệt Hợp.

Hợp Đởm- Tĩnh Tiểu Trường: Dương Lăng Tuyền- Thiếu Trạch.

Nguyên, Lạc, Khích Đởm: Khâu Khư, Quang Minh, Ngoại Khưu.

Kinh Âm

Chắp kinh của kinh Âm khác với kinh Dương ở chỗ sự vận hành kinh khí khác nhau và khác nhau ở huyệt khai, nếu như huyệt khai mở của kinh Dương là Hậu Khê, Trung Chữ, Tam Gian thì huyệt khai mở của kinh Âm là Thúc Cốt, Túc Lâm Khấp, Hãm Cốc. Huyệt khai luôn luôn là huyệt xuất hiện đầu tiên của mỗi toa chắp kinh.


3.2.7 Kinh Phế

Đau trên huyệt Hợp

Hợp Phế- Tĩnh TBL: Xích Trach- Trung Xung.

Nguyên, Lạc, Khích TBL: Đại Lăng, Nội Quan, Khích Môn.
Đau dưới huyệt Hợp

Hợp Tâm- Tĩnh Phế: Thiếu Hải- Thiếu Thương

Nguyên, Lạc, Khích Tâm: Thần Môn, Thông Lý, Âm Khích.

3.2.8 Kinh Tâm Bào Lạc

1. Đau trên huyệt Hợp

Hợp TBL- Tĩnh Tâm: Khúc Trạch- Thiếu Xung.

Nguyên, Lạc, Khích Tâm: Thần Môn, Thông Lý, Âm Khích

2. Đau dưới huyệt Hợp

Hợp Phế- Tĩnh TBL: Xích Trạch- Trung Xung.

Nguyên, Lạc, Khích Phế: Thái Uyên, Liệt Khuyết, Khổng Tối.

3.2.9 Kinh Tâm

Đau trên huyệt Hợp

Hợp Tâm- Tĩnh Phế: Thiếu Hải- Thiếu Thương

Nguyên, Lạc, Khích Phế: Thái Uyên, Liệt Khuyết, Khổng Tối.

Đau dưới huyệt Hợp:

Hợp TBL- Tĩnh Tâm: Khúc Trạch- Thiếu Xung

Nguyên, Lạc, Khích TBL: Đại Lăng, Nội Quan, Khích Môn


3.2.10 Kinh Thận

1) Đau trên huyệt Hợp

 Hợp Thận- Tĩnh Tỳ: Âm Cốc- Ẩn Bạch Nguyên, Lạc, Khích Tỳ: Thái Bạch, Côn Tông, Địa Cơ.


2) Đau dưới huyệt Hợp

Hợp Can- Tĩnh Thân: Khúc Tuyền- Dũng Tuyền.

Nguyên, Lạc, Khích Can: Thái Xung, Lây Cấu, Trung Đô.

3.2.11 Kinh Tỳ

Đau trên huyệt Hợp

Hợp Tỳ- Tĩnh Can: Âm Lăng Tuyền, Đại Đôn.

Nguyên, Lạc, Khích Can: Thái Xung, Lây Cấu, Trung Đô.

Đau dưới huyệt Hợp

Hợp Thân- Tĩnh Tỳ: Âm Cốc- Ẩn Bạch

Nguyên, Lạc, Khích Thận: Thái Khê, Đại Chung, Thủy Tuyền.


3.2.12 Kinh Can

Đau trên huyệt Hợp

Hợp Can- Tĩnh Thận: Khúc Tuyền- Dũng Tuyền.

Nguyên- Lạc- Khích Thận: Thái Khê, Đại Chung, Thủy Tuyền.

Đau dưới huyệt Hợp

Hợp Tỳ- Tĩnh Can: Âm Lăng Tuyền- Đại Đôn.

Nguyên Lạc Khích Tỳ: Thái Bạch, Công Tôn, Địa Cơ.

Cách đơn giản trong thực hành là xác định vị trí đau của bệnh nhân là trên hay là dưới huyệt Hợp, sau đó tra các hình vẽ( phần in đậm) xem chỗ đau thuộc đường kinh nào thì dùng toa huyệt đó.

Trong thực tế thực hành lâm sàng, để đơn giản hóa, tôi đã vẽ lại sự chi phối các đường kinh cho dễ nhớ, dễ thuộc dùng trong thực tế lâm sàng như sau:

3.3 Bảng tổng kết chắp kinh

  Đau trên huyệt Hợp Đau dưới huyệt Hợp
Bàng Quang Ủy Trung- Thương Dương Hợp Cốc- Thiên Lịch- Ôn Lưu Tiểu Hải- Chí Âm Uyển Cốt, Chi Chánh, Dưỡng Lão
Đại Trường Khúc Trì- Lệ Đoài Xung Dương- Phong Long- Lương Khâu Ủy Trung- Thương Dương Kinh Cốt– Phi Dương- Kim Môn
Vị Túc Tam Lý- Quan Xung Dương Trì- Ngoại Quan- Hội Tông Khúc Trì- Lệ Đoài Hợp Cốc Thiên Lịch Ôn Lưu
Tam Tiêu Thiên Tỉnh- Túc Khiếu Âm Khâu Khư- Quang Minh- Ngoại Khâu Túc Tam Lý- Quan Xung Xung Dương- Phong Long- Lương Khâu
Đởm Dương Lăng Tuyền- Thiếu Trạch Uyển Cốt- Chi Chánh- Dưỡng Lão Thiên Tỉnh- Túc Khiếu Âm Dương Trì- Ngoại Quan- Hội Tông
Tiểu Trường Tiểu Hải- Chí Âm Kinh Cốt- Phi Dương- Kim Môn Dương Lăng Tuyền- Thiếu Trạch Khâu Khư- Quang Minh- Ngoại Khâu
Phế Xích Trach- Trung Xung Đại Lăng- Nội Quan- Khích Môn Thiếu Hải- Thiếu Thương Thần Môn- Thông Lý- Âm Khích
Tâm Bào Lạc Khúc Trạch- Thiếu Xung Thần Môn- Thông Lý- Âm Khích Xích Trach- Trung Xung Thái Uyên- Liệt Khuyết- Khổng Tối
Tâm Thiếu Hải- Thiếu Thương Thái Uyên- Liệt Khuyết- Khổng Tối Khúc Trạch- Thiếu Xung Đại Lăng- Nội Quan- Khích Môn
Thận Âm Cốc- Ẩn Bạch Thái Bạch- Công Tông- Địa Cơ Khúc Tuyền- Dũng Tuyền Thái Xung- Lây Cấu- Trung Đô
Tỳ Âm Lăng Tuyền- Đại Đôn Thái Xung- Lây Cấu- Trung Đồ Âm Cốc- Ẩn Bạch Thái Khê- Đại Chung- Thủy Tuyền
Can Khúc Tuyền- Dũng Tuyền Thái Khê- Đại Chung- Thủy Tuyền Âm Lăng Tuyền- Đại Đôn Thái Bạch- Công Tôn- Địa Cơ

3.4 Một số ứng dụng của chắp kinh trong điều trị.

3.4.1 Chứng đau thần kinh tọa.

Trên lâm sàng có hai kiểu đau: Đau theo kinh Bàng Quang và đau theo kinh Đởm.

Đau theo kinh Bàng Quang là đau từ lưng lan xuống mông, từ mông lan xuống khoeo. Khi ấy ta dùng toa châm đau trên huyệt hợp kinh Bàng Quang: Hậu Khê, Trung Chữ, Tam Gian, Ủy Trung, Hợp Cốc, Thiên Lịch, Ôn Lưu.

Đau theo kinh Đởm: Đau từ lưng lan xuống mặt ngoài chân, lan xuống đầu gối. Khi ấy ta dùng toa châm đau trên huyệt Hợp kinh Đởm: Dương Lăng Tuyền, Thiếu Trạch, Uyển Cốt, Chi Chánh, Dưỡng Lão.


3.4.2 Chứng viêm gân gót.

Triệu chứng: Đau gót chân, đau vùng cổ chân, vận động cử động đau, đôi khi có sưng nóng đỏ.

Gân gót và phần gót thuộc phạm vi của kinh Bàng Quang. Chúng ta dùng toa huyệt của đau dưới huyệt Hợp kinh Bàng Quang: Tiểu Hải, Chí Âm, Kinh Cốt, Phi Dương, Kim Môn.

3.4.3 Chứng Gout

Chứng Gout có nhiều chỗ đau, nhưng hay gặp đau ở ngón chân cái như hình vẽ. Dùng toa châm đau dưới huyệt Hợp kinh Tỳ: Âm Cốc, Ẩn Bạch, Thái Khê, Đại Chung, Thủy Tuyền.

3.4.4 Chứng viêm khớp dạng thấp


 Bệnh này đau nhiều khớp nhỏ nhỡ, chủ yếu đau dưới huyệt Hợp các đường kinh Dương. Tùy theo các vị trí đau mà dùng các toa khác nhau. Đau cổ tay thì dùng toa kinh Tam Tiêu dưới huyệt Hợp, đau ngón trỏ dùng toa kinh Đại Trường,..


3.4.5 Ngón tay lò xo( ngón tay cò súng)

Bệnh này thuộc các đường Kinh Dương. Các ngón tay tự gấp mà không duỗi ra được, cần phải dùng tay kéo ra. Nếu bị ngón cái, ngón trỏ thì dùng kinh Đại Trường, bị ngón giữa, ngón nhẫn thì dùng kinh Tam Tiêu, bị ngón út thì dùng kinh Tiểu Trường.

3.4.6 Viêm lồi cầu trong xương cánh tay

Phần mặt trong cánh tay, vùng huyệt Thiếu Hải sưng đau, hạn chế vận động nhiều. Dùng toa dưới huyệt Hợp kinh Tâm: Khúc Trach, Thiếu Xung, Đại Lăng, Nội Quan, Khích Môn.

3.4.7 Viêm lồi cầu ngoài xương cánh tay


Đau mặt ngoài cánh tay vùng huyệt Khúc Trì rồi lan xuống cẳng tay, đến cổ tay. Dùng toa huyệt đau dưới huyệt Hợp kinh Đại Trường: Ủy Trung- Thương Dương- Thúc Cốt- Phi Dương- Kim Môn.

3.4.8 Viêm gân cơ nhị đầu


Đau vùng xương cánh tay, gần nách, giơ tay đau. Vùng này thuộc kinh Phế. Dùng toa: Xích Trach, Trung Xung, Đại Lăng, Nội Quan, Khích Môn.

3.4.9 Đau vai không giơ được tay.

Chứng này thuộc bệnh kinh Đại Trường, dùng toa châm đau trên huyệt hợp kinh Đại Trường: Khúc Trì, Lệ Đoài, Xung Dương, Phong Long, Lương Khâu.

Trên đây là một số ví dụ về ứng dụng của chắp kinh. Trong thực tế lâm sàng tùy từng chứng đau mà chúng ta xác định kinh bệnh cho đúng mà có từng phác đồ điều trị khác nhau. Phương pháp này hoàn toàn có thể kết hợp với phương pháp khác. Ngoài châm cứu có thể kết hợp day bấm các huyệt của toa châm mà vẫn có hiệu quả.

Comments are closed.